Mục lục [-]

    Loại thuốc:

    Thuốc chủ vận beta2 chọn lọc; thuốc giãn phế quản

    Dạng thuốc và Hàm lượng:

    • Fenoterol hydrobromid.
    • Bình xịt khí dung hít định liều: 100 microgam/liều xịt (200 liều).
    • Fenoterol hydrobromid và ipratropium bromid kết hợp:
      • Bình xịt khí dung hít: Mỗi liều xịt chứa 50 microgam fenoterol hydrobromid và 20 microgam ipratropium bromid (200 liều).
      • Dung dịch hít: 1 ml chứa 500 microgam fenoterol hydrobromid và 250 microgam ipratropium bromid (20 ml).

    Dược lý và Cơ chế tác dụng:

    Fenoterol là thuốc chủ vận thụ thể beta2 - adrenergic chọn lọc, gây giãn cơ trơn phế quản, do đó giảm nhẹ co thắt phế quản, tăng dung tích sống, giảm thể tích cặn, và giảm sức kháng đường hô hấp. Thuốc chủ vận beta2 - adrenergic hít được khuyên dùng để điều trị cơn co thắt phế quản cấp. Trong điều trị hen, cũng cần sử dụng kết hợp thuốc chủ vận beta2 với glucocorticoid để dự phòng. Các thuốc chủ vận beta2 - adrenergic chỉ có hiệu quả trong điều trị hen cấp tính, không có tác dụng ngăn chặn cơn hen nặng lên. Mức độ nặng của bệnh hen thay đổi theo thời gian, nên liều thuốc chủ vận beta2 cần dùng cũng thay đổi theo. Việc sử dụng thuốc cách quãng để ngăn ngừa hen do vận động thể lực là rất có hiệu quả và an toàn.

    Có sự tăng tính phản ứng của đường hô hấp do thâm nhiễm tế bào viêm trong hen dị ứng (thường gặp ở hen trẻ em và hen theo mùa). Hơn nữa, hen có đặc điểm cơ bản là sự thâm nhiễm của bạch cầu - tế bào viêm. Có thể điều trị thâm nhiễm tế bào viêm bằng glucocorticoid để làm giảm cơn hen. Tuy nhiên, khi có cơn hen cấp, thì phải điều trị bằng thuốc chủ vận beta2 và/hoặc thuốc kháng cholinergic như ipratropium để làm giãn phế quản.

    Trong quá trình điều trị từng bước với các thuốc chống hen, loại chủ vận beta2 - adrenergic chọn lọc tác dụng ngắn dạng hít (ví dụ, bitolterol, fenoterol, pirbuterol, salbutamol, terbutalin) thường được sử dụng là thuốc ban đầu để điều trị cơn hen nhẹ cách quãng mới chẩn đoán.

    Khi các triệu chứng nặng lên và cần dùng thường xuyên một thuốc chủ vận beta2 tác dụng ngắn, dạng hít (4 lần/ngày) thì phải dùng glucocorticoid để giảm tính phản ứng của đường hô hấp.

    Nếu cơn hen xảy ra hàng ngày, thì cần điều trị duy trì với corticosteroid hít. Nếu triệu chứng xuất hiện liên tục và không kiểm soát được với liều duy trì cao corticosteroid hít và thuốc giãn phế quản, thì phải dùng thêm corticosteroid uống, hoặc thuốc hít kết hợp fenoterol và ipratropium.

    Dược động học

    Thời gian fenoterol bắt đầu có tác dụng sau khi hít là 5 phút sau khi uống là 30 - 60 phút. Thời gian tác dụng tối đa sau khi hít là 0,5 - 1 giờ, sau khi uống là 2 - 3 giờ. Thời gian tác dụng kéo dài, sau khi hít là 2 - 3 giờ, sau khi uống là 6 - 8 giờ. Sau khi hít, fenoterol được hấp thu một phần qua đường hô hấp và một phần qua đường tiêu hóa. Tuy nhiên với liều thông thường, nồng độ thuốc trong huyết thanh rất thấp. Không có tương quan giữa nồng độ thuốc trong huyết thanh và hiệu lực giãn phế quản. Nửa đời của thuốc khoảng 7 giờ. Fenoterol được thải trừ chủ yếu qua thận dưới dạng các dẫn xuất liên hợp sulfonic, chỉ có dưới 2% là ở dạng không biến đổi.

    Chỉ định:

    Ðiều trị cơn hen phế quản cấp. Cũng có thể dùng điều trị triệu chứng co thắt phế quản có kèm viêm phế quản, khí phế thũng, giãn phế quản hoặc những bệnh phổi tắc nghẽn khác. Dự phòng cơn hen do vận động.