Sản phẩm đang đươc cập nhật...

Pioglitazone - Giới thiệu chi tiết về hoạt chất Pioglitazone và danh sách các sản phẩm chứa Pioglitazone

Cảnh báo

Thuốc có thể gây ra hoặc làm trầm trọng thêm bệnh suy tim sung huyết, suy gan, thậm chí dẫn đến tử vong, tăng nguy cơ mắc khối u bàng quang, phù, tăng nguy cơ gãy xương ở phụ nữ, phù hoàng điểm, tăng rụng trứng ở phụ nữ tiền mãn kinh.

Hướng dẫn sử dụng

Cách dùng

Pioglitazone có thể uống với thức ăn hoặc không. Nếu quên uống thuốc trong một ngày, không nên uống liều gấp đôi trong ngày kế tiếp.

Không nên bắt đầu điều trị với pioglitazone nếu bệnh nhân có bệnh gan thể hoạt động hoặc mức transaminase huyết thanh tăng (ALT >2,5 lần giới hạn trên của mức bình thường) khi bắt đầu điều trị. Tất cả bệnh nhân nên được theo dõi men gan trước khi bắt đầu điều trị với pioglitazone và định kỳ sau đó.

Không có dữ liệu về dùng thuốc ở bệnh nhân dưới 18 tuổi, do đó, không đề nghị dùng pioglitazone ở trẻ em.

Liều lượng

Liều pioglitazone không nên vượt quá 45mg, 1 lần/ ngày với đơn trị liệu. Ðiều trị phối hợp không nên dùng liều >30mg, 1 lần/ ngày.

Ðơn trị liệu: Liều ban đầu 15-30mg ngày một lần. Bệnh nhân không đáp ứng đầy đủ với liều khởi đầu có thể tăng liều đến 45mg ngày một lần. Bệnh nhân không đáp ứng với trị liệu đơn độc, nên điều trị phối hợp.

Ðiều trị phối hợp với Sulphonylurea: Có thể bắt đầu với liều pioglitazone 15-30mg, 1 lần/ ngày. Nếu bệnh nhân bị hạ đường huyết, nên giảm liều sulphonylurea.

Ðiều trị phối hợp với Metformine: Có thể bắt đầu với liều pioglitazone 15-30mg, 1 lần/ ngày. Liều metformine đang dùng có thể được duy trì khi điều trị kết hợp với pioglitazone. Ít khi phải chỉnh liều Metformine.

Ðiều trị phối hợp với Insulin: Có thể bắt đầu với liều pioglitazone 15-30mg, 1 lần/ ngày. Liều insulin đang dùng có thể được duy trì khi điều trị kết hợp với pioglitazone. Có thể giảm liều insulin đi 10-25% nếu bệnh nhân bị hạ đường huyết hoặc nếu nồng độ glucose trong huyết tương giảm đến dưới 100mg/dL. Ðiều chỉnh thêm tùy theo đáp ứng hạ đường huyết của từng bệnh nhân.

Chỉ định

Pioglitazone được chỉ định kết hợp với chế độ ăn kiêng và tập thể dục nhằm kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân tiểu đường loại 2. Có thể đơn trị liệu hoặc dùng phối hợp với sulphonylurea, metformin hoặc insulin.

Chống chỉ định

Chống chỉ định pioglitazone ở bệnh nhân quá mẫn với pioglitazone hoặc bất kỳ thành phần nào của thuốc.

Tác dụng phụ

Pioglitazone có thể làm thay đổi lượng đường trong máu và gây ra các triệu chứng như đau đầu, đau cơ, đau ở cánh tay hoặc cẳng chân, viêm họng, đầy hơi, thay đổi tầm nhìn, mất thị lực, đi tiểu thường xuyên, tiểu đau hoặc tiểu khó, nước tiểu đục, mất màu hoặc có máu, đau lưng/ bụng. Pioglitazone có thể gây ra các bất thường cho gan. Ngưng dùng pioglitazone và gọi cho bác sĩ ngay nếu bạn thấy buồn nôn, nôn, chán ăn, đau ở phần trên bên phải của bụng, triệu chứng giống như cúm, nước tiểu sẫm màu, vàng da hoặc mắt, chảy máu bất thường hoặc bầm tím, yếu ớt. Nói chuyện với bác sĩ về những nguy cơ của việc dùng thuốc. Pioglitazone làm tăng nguy cơ phát triển ung thư bàng quang;gãy xương ở phụ nữ, đặc biệt là xương bàn tay, cánh tay, chân hoặc bàn chân. Pioglitazone này có thể gây ra các tác dụng phụ khác. Gọi cho bác sĩ nếu bạn có bất kỳ vấn đề bất thường nào khi dùng thuốc.

Lưu ý

Trước khi dùng pioglitazone, cho bác sĩ và dược sĩ biết nếu bạn bị dị ứng với pioglitazone, bất kỳ loại thuốc hoặc bất kỳ thành phần nào trong thuốc pioglitazone và các thuốc bạn đang sử dụng. Nói với bác sĩ nếu bạn có hoặc đã từng bị ung thư bàng quang, bệnh mắt do tiểu đường, bệnh thận hoặc bệnh gan. Nếu bạn có phẫu thuật, kể cả phẫu thuật nha khoa, cho bác sĩ hoặc nha sĩ biết bạn đang dùng pioglitazone. Hỏi bác sĩ về những việc cần làm nếu bạn bị bệnh, nhiễm trùng hoặc sốt, căng thẳng hoặc bị thương vì những vấn đề này có thể ảnh hưởng đến lượng đường trong máu của bạn.

  • Phụ nữ có thai: Không có nghiên cứu đối chứng tốt và đầy đủ ở phụ nữ có thai. Chỉ dùng pioglitazone khi mang thai nếu lợi ích cho mẹ lớn hơn nhiều so với nguy cơ tiềm ẩn cho thai nhi.
  • Bà mẹ cho con bú: Pioglitazone bài tiết trong sữa chuột. Chưa biết pioglitazone có bài tiết trong sữa người hay không. Vì có nhiều thuốc bài tiết trong sữa mẹ, không nên dùng pioglitazone cho phụ nữ đang cho con bú.
  • Trẻ em: Tính an toàn và hiệu quả của pioglitazone ở trẻ em chưa được chứng minh.

Quá liều

Nếu nạn nhân hôn mê hoặc không thở được, cần gọi cấp cứu ngay lập tức.

Bảo quản

Giữ thuốc trong hộp kín, ngoài tầm với của trẻ em. Bảo quản ở nhiệt độ phòng, nơi khô ráo, tránh nguồn nhiệt, ánh sáng trực tiếp.

Nếu quên uống thuốc

Nếu nhớ ra liều đã quên trong ngày, hãy dùng liều đó ngay. Tuy nhiên, nếu nhớ ra liều vào ngày hôm sau, bỏ qua liều đã quên và tiếp tục lịch dùng thuốc. Không dùng liều gấp đôi để bù cho liều đã bị bỏ lỡ.

Chế độ ăn uống

Tuân thủ chế độ dinh dưỡng và tập thể dục mà bác sĩ hoặc chuyên viên dinh dưỡng đưa ra. Hỏi bác sĩ về việc sử dụng các loại đồ uống có cồn trong khi đang dùng pioglitazone.

Tương tác

Sử dụng pioglitazone với thuốc uống ngừa thai (ethinyl estradiol và norethidron) làm giảm tác dụng ngừa thai.

Dược động họ

Hấp thu: Khi uống lúc đói, pioglitazone có thể đo được trong huyết thanh trong vòng 30 phút, với nồng độ đỉnh đạt được trong vòng 2 giờ. Thức ăn làm chậm nồng độ đỉnh trong huyết thanh đến 3-4 giờ nhưng không thay đổi mức độ hấp thu. Nồng độ trong huyết thanh của pioglitazone và tất cả các chất chuyển hóa đạt đến trạng thái bình ổn trong vòng 7 ngày. Ở trạng thái bình ổn, hai chất chuyển hóa có hoạt tính của pioglitazone là chất chuyển hóa III và IV có nồng độ trong huyết thanh bằng hoặc cao hơn pioglitazone. Ở cả người tình nguyện khỏe mạnh lẫn bệnh nhân tiểu đường type 2, pioglitazone chiếm khoảng 30% đến 50% nồng độ đỉnh trong huyết thanh của toàn bộ pioglitazone và 20% đến 25% tổng diện tích dưới đường cong nồng độ trong huyết thanh và thời gian (AUC).

Phân bố: Dung lượng phân phối biểu kiến trung bình của pioglitazone sau khi uống liều duy nhất là 0,63 ? 0,41 (giá trị trung bình ? độ lệch) L/kg thể trọng. Pioglitazone gắn kết mạnh với protein (99%) trong huyết thanh người, chủ yếu với albumin huyết thanh. Pioglitazone cũng gắn kết với những protein huyết thanh khác nhưng với ái lực kém hơn. Các chất chuyển hóa M-III và M-IV cũng gắn kết mạnh với albumin huyết thanh (> 98%).

Chuyển hóa: Pioglitazone được chuyển hóa mạnh bằng cách thủy phân và oxy hóa, các chất chuyển hóa cũng được chuyển một phần thành dạng kết hợp với glucuronide và sulfate. Các chất chuyển hóa M-II và M-IV (dẫn xuất hydroxyl của pioglitazone) và M-III (dẫn xuất keton của pioglitazone) có hoạt tính dược lý ở thú vật thử nghiệm tiểu đường type 2. Ngoài pioglitazone, M-III và M-IV là những dạng có liên quan với thuốc chủ yếu được tìm thấy trong huyết thanh người sau nhiều liều dùng. Ở trạng thái bình ổn, ở cả người tình nguyện khỏe mạnh lẫn bệnh nhân tiểu đường type 2, pioglitazone chiếm khoảng 30% đến 50% tổng nồng độ đỉnh trong huyết thanh và 20% đến 25% tổng AUC.

Thải trừ: Sau khi uống, khoảng 15% đến 30% liều dùng pioglitazone được tìm thấy trong nước tiểu. Thải trừ qua thận của pioglitazone thì không đáng kể và thuốc được bài xuất chủ yếu dưới dạng các chất chuyển hóa và dạng kết hợp của các chất chuyển hóa. Người ta cho là hầu hết liều uống được bài xuất trong mật nguyên dạng hoặc dưới dạng các chất chuyển hóa và thải trừ trong phân. Thời gian bán hủy trung bình trong huyết thanh của pioglitazone biến thiên từ 3 đến 7 giờ và của toàn bộ pioglitazone biến thiên từ 16 đến 24 giờ.

Suy thận: Thời gian bán thải trong huyết thanh của pioglitazone, M-III và M-IV không thay đổi ở bệnh nhân suy thận vừa (độ thanh thải creatinin 30-60mL/phút) và nặng (độ thanh thải creatinin < 30 mL/phút) so với người bình thường. Không đề nghị chỉnh liều ở bệnh nhân rối loạn chức năng thận.

Suy gan: So với kiểm soát bình thường, bệnh nhân suy chức năng gan có nồng độ đỉnh trung bình của pioglitazone giảm khoảng 45% nhưng giá trị AUC trung bình không thay đổi. Không nên bắt đầu điều trị với pioglitazone nếu bệnh nhân có bằng chứng lâm sàng bệnh gan thể hoạt động hoặc mức transaminase huyết thanh vượt quá 2,5 lần giới hạn trên của mức bình thường.

Người già: Ở người già khỏe mạnh, nồng độ đỉnh trong huyết thanh của pioglitazone và toàn bộ pioglitazone không thay đổi đáng kể, nhưng giá trị AUC hơi cao hơn và thời gian bán hủy cuối cùng hơi dài hơn so với người trẻ hơn. Những thay đổi này không quan trọng về lâm sàng.

Trẻ em: Không có dữ liệu dược động học ở trẻ em.

Giới tính: Cmax trung bình và giá trị AUC tăng 20 đến 60% ở phụ nữ. Khi dùng đơn độc và khi phối hợp với sulphonylurea, metformine hay insulin, pioglitazone cải thiện kiểm soát đường huyết ở cả nam và nữ. Ở thử nghiệm lâm sàng có đối chứng, mức giảm AIC hemoglobin so với khi bắt đầu ở phụ nữ thường lớn hơn nam giới (mức thay đổi trung bình Hb AIC 0,5%). Do đó điều trị nên xem xét theo từng bệnh nhân nhằm đạt được kiểm soát đường huyết, không đề nghị điều chỉnh liều chỉ dựa trên giới tính.